SAOMI
Menu

Lịch sử

Đăng nhập để thấy các lá số bạn đã xem.

Cửa hàngGói thành viên · bảng giáNhận điểm miễn phíKiến thức
Giao diệnTím nhạt

BZ-011 · Bát tự

Thông căn, thấu can và đắc lệnh: ba câu hỏi, đừng gộp thành một chữ “vượng”

Ba khái niệm này thường bị gộp vào cách nói “vượng” hay “nhược” cho nhanh. Thực ra mỗi khái niệm trả lời một câu hỏi khác nhau: Thiên can có rễ không, chữ ẩn có lộ ra không, và mùa có đứng về phía hành đó không.

7 phút đọc

Ba câu hỏi khác nhau

Khái niệmCâu hỏiNhìn vào đâu
Thông cănThiên can này có rễ ở Địa chi không?Địa chi nào trong lá số chứa cùng hành (bản khí mạnh hơn dư khí)
Thấu canChữ đang ẩn trong Địa chi có lộ ra thành Thiên can không?Thiên can nào của lá số trùng với tàng can của một Địa chi
Đắc lệnhMùa sinh có đứng về phía hành này không?Chi của trụ tháng và trạng thái vượng, tướng, hưu, tù, tử

Ba câu hỏi này độc lập. Một Thiên can có thể đắc lệnh mà không có rễ ở chi nào khác, hoặc có rễ ở khắp nơi mà không đắc lệnh. Việc gộp chúng làm một chữ “vượng” khiến ta mất khả năng nói rõ chỗ mạnh nằm ở đâu.

Thông căn: Thiên can có rễ

Một Thiên can như Giáp Mộc “thông căn” khi trong các Địa chi của lá số có chỗ chứa Mộc: Dần, Mão (bản khí Mộc), hoặc Hợi, Mùi, Thìn (tàng can chứa Giáp hay Ất). Rễ vững khi nằm ở bản khí và ở các chi gần Thiên can (nhất là cùng trụ hoặc trụ kề bên); rễ yếu khi chỉ nằm ở dư khí hoặc ở chi xa.

Thiên can có rễ chịu được khắc chế và tiết hao tốt hơn; Thiên can không rễ như cây không có đất, dù trông nổi bật ở trên vẫn dễ bị chế.

Thấu can: chữ ẩn lộ ra

Địa chi Dần chứa Giáp, Bính, Mậu. Nếu trong các Thiên can của lá số có Giáp, Bính hoặc Mậu, ta nói chữ đó “thấu” ra. Một chữ ẩn mà thấu ra thì có thêm thế để hoạt động; chữ ẩn nhưng không thấu thì chỉ ở dạng tiềm tàng. Các sách cũ thường coi thấu can là điều kiện để đọc cách cục (xem bài cách cục thành và phá).

Đắc lệnh: mùa đứng về phía hành nào

Đắc lệnh nói tới tháng sinh. Hành của chi tháng đang cầm quyền trong khoảng thời gian đó: hành này vượng, hành mà nó sinh ra là tướng, hành sinh ra nó là hưu, hành khắc nó là tù, hành nó khắc là tử. Một Nhật chủ cùng hành với chi tháng được gọi là đắc lệnh; nếu rơi vào hưu, tù, tử thì gọi là thất lệnh. Chi tiết nằm ở bài tháng lệnh.

Điểm quan trọng: đắc lệnh là yếu tố của mùa, không bảo đảm Nhật chủ có rễ hay có chữ hỗ trợ. Hai người cùng đắc lệnh vẫn có thể rất khác nhau tùy phần còn lại của lá số.

Một ví dụ để phân biệt

Giả sử Nhật chủ là Giáp (Mộc), sinh tháng Dần. Tháng Dần là mùa xuân, Mộc vượng, nên Nhật chủ đắc lệnh. Nếu trong các Địa chi còn lại chỉ có Thân và Dậu (Kim), không chữ nào chứa Mộc, thì Nhật chủ có đắc lệnh nhưng không có rễ nào ngoài chi tháng. Nếu Thiên can của lá số có thêm Bính (chữ có trong tàng can của Dần), ta nói Bính thấu ra từ chi tháng.

  1. Ghi Nhật chủ và hành của nó.
  2. Xem chi tháng: Nhật chủ đắc lệnh hay thất lệnh?
  3. Liệt kê các chi chứa cùng hành (rễ) và vị trí của chúng so với Nhật chủ.
  4. Liệt kê các tàng can đã thấu lên Thiên can.
  5. Chỉ sau đó mới tổng hợp thành nhận định về mạnh yếu.

Thử ngay trên lá số của bạn

Tài liệu và xuất xứ

Bài viết nhằm hiểu khái niệm và cách tính, không thay lời khuyên chuyên môn và không dự đoán sự việc.

Đọc tiếp

Góp ý cho SAOMI

Chỗ dùng chưa tiện, tính năng muốn có mà chưa có, đoạn giải đọc chưa chuẩn — bạn cứ viết ở đây. Chúng tôi đọc từng ý và sửa ngay được chỗ nào thì sửa.

SAOMI · Đăng nhập

Đăng nhập

Đăng nhập để lưu các lá số bạn xem và đọc tiếp lần sau.

✓ Lưu các lá số bạn xem vào lịch sử của tài khoản

Xem lá số vẫn miễn phí · Đăng nhập không mất phí

Tiếp tục nghĩa là bạn đồng ý với Điều khoản sử dụng và Quyền riêng tư.

hoặc dùng email

Đã có tài khoản? Cứ tiếp tục là được, không cần phân biệt đăng ký hay đăng nhập.