BZ-004 · Bát tự
Giờ mặt trời thật, múi giờ và giờ mùa hè khác nhau thế nào?
Giờ trên đồng hồ không phải lúc nào cũng khớp với vị trí thật của Mặt Trời. Bài này tách ba lớp: múi giờ, kinh độ nơi sinh và phương trình thời gian, rồi nêu ba cách SAOMI cho bạn chọn khi dựng lá số.
Ba lớp chênh lệch giữa đồng hồ và Mặt Trời
Khi bạn nhìn đồng hồ, bạn đang đọc giờ của cả một múi giờ chứ không phải của riêng nơi bạn đứng. Giữa đồng hồ và Mặt Trời thật có ba lớp chênh lệch khác nhau, và mỗi lớp xử lý theo cách riêng.
| Lớp | Điều đang xảy ra | Cỡ chênh lệch |
|---|---|---|
| Múi giờ và giờ mùa hè | Nhiều nơi dùng chung một giờ chuẩn; có thời kỳ cộng thêm một giờ mùa hè | Theo số giờ của quy định, thường là 1 giờ |
| Kinh độ nơi sinh | Nơi ở xa kinh tuyến chuẩn của múi giờ thì Mặt Trời lên cao nhất sớm hoặc muộn hơn | 4 phút cho mỗi độ kinh |
| Phương trình thời gian | Mặt Trời thật chạy lúc nhanh lúc chậm hơn Mặt Trời trung bình trong năm | Từ khoảng −14 đến +16 phút, đổi theo ngày |
Múi giờ và giờ mùa hè với người sinh ở Việt Nam
Việt Nam ngày nay dùng múi giờ UTC+7, ứng với kinh tuyến chuẩn 105° Đông. Nhưng giờ chuẩn từng thay đổi theo thời kỳ: có giai đoạn hai miền dùng giờ khác nhau, và có những năm áp dụng giờ mùa hè hoặc giờ khác ở một số vùng. Nếu bạn sinh ở thời kỳ đó, giờ ghi trên giấy khai sinh có thể không phải UTC+7 như hiện nay.
Kinh độ: giờ trung bình địa phương
Trái Đất quay 360° trong 24 giờ, tức 15° mỗi giờ hoặc 4 phút mỗi độ kinh. Nếu kinh độ nơi sinh lớn hơn kinh tuyến chuẩn 105° thì Mặt Trời đến đỉnh sớm hơn so với đồng hồ; nhỏ hơn thì muộn hơn.
- Hà Nội (khoảng 105,8° Đông): sớm hơn khoảng 3 phút.
- Đà Nẵng (khoảng 108,2° Đông): sớm hơn khoảng 13 phút.
- Điện Biên (khoảng 103° Đông): muộn hơn khoảng 8 phút.
Cách chỉnh này gọi là giờ trung bình địa phương. Nó chỉ dùng kinh độ nên ổn định, không đổi theo ngày trong năm.
Giờ mặt trời thật: cộng thêm phương trình thời gian
Quỹ đạo Trái Đất là hình elip và trục quay nghiêng, nên Mặt Trời thật không chạy đều như một chiếc đồng hồ. Khoảng chênh giữa Mặt Trời thật và Mặt Trời trung bình, đổi theo ngày, gọi là phương trình thời gian: Mặt Trời thật chậm hơn nhiều nhất khoảng 14 phút vào giữa tháng Hai, và nhanh hơn nhiều nhất khoảng 16 phút vào đầu tháng Mười Một.
Giờ mặt trời thật là giờ có tính cả kinh độ và phương trình thời gian. Vì độ lệch cộng dồn có thể vượt cả một giờ ở cực đoan, nó có thể làm giờ tính của bạn nhảy sang một canh giờ khác, thậm chí sang ngày khác nếu bạn sinh sát nửa đêm.
Ba cách SAOMI cho bạn chọn
| Chế độ | Cách tính | Có đổi ngày không? |
|---|---|---|
| Giờ đồng hồ | Dùng đúng giờ ghi trên giấy tờ | Không |
| Giờ địa phương | Giờ đồng hồ cộng chỉnh kinh độ nơi sinh | Không: giờ quay vòng trong cùng ngày |
| Giờ mặt trời thật | Giờ đồng hồ cộng chỉnh kinh độ và phương trình thời gian | Có: nếu vượt qua nửa đêm thì ngày tính đổi theo |
Ở chế độ tự động, nếu giờ địa phương của nơi sinh lệch giờ chuẩn từ 30 phút trở lên thì SAOMI dùng giờ địa phương; nếu lệch ít hơn thì giữ giờ đồng hồ. Khi bạn không biết giờ sinh, SAOMI dùng 12:00 và không dùng giờ mặt trời thật.
Thử ngay trên lá số của bạn
Tài liệu và xuất xứ
- Equation of time (Wikipedia)Giải thích phương trình thời gian và biên độ trong năm.
- Tam Mệnh Thông Hội (三命通會)Có phần bàn về thời điểm sinh; cách hiệu chỉnh theo kinh độ là cách tính hiện đại bổ sung.
Bài viết nhằm hiểu khái niệm và cách tính, không thay lời khuyên chuyên môn và không dự đoán sự việc.
Đọc tiếp
BZ-005 · Bát tự
Giờ Tý đổi ngày: vì sao cùng một giờ sinh lại ra hai lá số?
Canh Tý kéo dài từ 23:00 đến 1:00 và nằm vắt qua nửa đêm. Hai quy ước đổi ngày khác nhau cho ra trụ ngày khác nhau với người sinh 23:00–23:59. Bài này nêu rõ hai quy ước, cách chọn và việc nên làm khi giờ sinh nằm ở ranh giới này.
BZ-003 · Bát tự
Vì sao trụ tháng phải xem tiết khí? Phân biệt “tiết” và “trung khí”
Trụ tháng của Bát tự đổi theo tiết khí chứ không theo tháng âm lịch hay tháng dương lịch. Bài này giải thích hai nửa của hai mươi bốn tiết khí, mười hai “tiết” dùng làm ranh giới tháng và cách tính can của tháng.
BZ-002 · Bát tự
Lần đầu xem Bát tự: làm quen Tứ trụ và Nhật chủ
Một lá số Bát tự có tám chữ xếp thành bốn trụ: năm, tháng, ngày, giờ. Thiên can của trụ ngày là Nhật chủ, đại diện cho chính người có lá số. Bài này giúp bạn nhìn tám chữ đúng thứ tự trước khi đọc bất kỳ nhận định nào.
AS-003 · Chiêm tinh phương Tây
Giờ và nơi sinh ảnh hưởng đến phần nào của lá số Chiêm tinh?
Không có giờ và nơi sinh vẫn lập được lá số, nhưng sẽ thiếu cung mọc, giữa trời, các nhà và năm hạn. Bài này cho thấy từng dữ kiện đi vào phần nào, SAOMI xử lý khi thiếu giờ ra sao và vì sao nơi sinh cũng quan trọng.