LY-001 · Lục hào
Lục hào là gì? Từ một lần hỏi đến một quẻ sáu hào
Lục hào dựng một quẻ sáu hào từ một lần gieo để trả lời một việc cụ thể. Bài này giải thích cách gieo bằng ba đồng xu, hào động và hào tĩnh, vì sao quẻ có thể biến thành quẻ khác, và phân biệt Lục hào với Tiểu Lục Nhâm mà SAOMI dùng ở mục Gieo quẻ.
Một quẻ sáu hào
Quẻ Kinh Dịch gồm sáu hào xếp từ dưới lên; mỗi hào là một vạch liền (dương) hoặc một vạch đứt (âm). Sáu hào tạo ra sáu mươi bốn quẻ. Lục hào là một phương pháp bói dùng quẻ sáu hào và gán thêm Can Chi, Ngũ hành cho từng hào để đọc việc cụ thể.
Gieo ba đồng xu
Cách gieo phổ biến là tung ba đồng xu sáu lần, mỗi lần cho một hào, từ hào dưới lên hào trên. Mỗi lần tung, đếm số mặt ngửa và sấp theo quy ước của nguồn đang dùng. Thường mỗi lần cho một trong bốn kết quả: âm tĩnh, dương tĩnh, âm động hoặc dương động.
| Kết quả một lần gieo | Hào | Có động không |
|---|---|---|
| Dương tĩnh | Vạch liền | Không động |
| Âm tĩnh | Vạch đứt | Không động |
| Dương động (lão dương) | Vạch liền | Động: biến thành vạch đứt |
| Âm động (lão âm) | Vạch đứt | Động: biến thành vạch liền |
Khi có hào động, quẻ gốc (bản quái) biến thành quẻ thứ hai (biến quái) bằng cách đảo các hào động. Hai quẻ này được đọc cùng nhau: quẻ gốc nói tình hình hiện tại, quẻ biến nói hướng chuyển tới.
Gán Can Chi và lục thân
Điểm đặc trưng của Lục hào là gán Địa chi (và Ngũ hành) vào từng hào, gọi là nạp giáp, rồi suy ra các loại quan hệ của mỗi hào với quẻ chủ, gọi là lục thân (tên là “sáu” nhưng thường kể năm loại): Phụ mẫu, Huynh đệ, Tử tôn, Thê tài, Quan quỷ. Tùy việc hỏi (tiền, công việc, tình cảm, học hành) mà chọn một loại làm dụng thần để đọc.
- Hỏi về tiền bạc: thường xét hào Thê tài.
- Hỏi về công việc, địa vị: thường xét hào Quan quỷ.
- Hỏi về học hành, giấy tờ, bề trên: thường xét hào Phụ mẫu.
- Hỏi về con cái, giải trí, phúc: thường xét hào Tử tôn.
- Hỏi về bạn bè, đối thủ, cạnh tranh: thường xét hào Huynh đệ.
Khác với Tiểu Lục Nhâm ở mục Gieo quẻ
Mục Gieo quẻ của SAOMI dùng Tiểu Lục Nhâm, một phép đếm ngắn qua sáu cung từ tháng, ngày và giờ âm lịch cùng một số báo. Lục hào là một hệ khác: dựng quẻ sáu hào bằng nhiều lần gieo, rồi nạp Can Chi và lục thân. Hai hệ tên gần nhau nhưng không dùng chung cách tính và không thay thế nhau.
Hai hiểu lầm thường gặp
Hiểu lầm: Lục hào là Kinh Dịch, đọc theo lời quẻ trong sách.
Cách hiểu phù hợp: Lục hào lấy hình quẻ sáu hào làm nền, nhưng đọc chủ yếu theo Can Chi, lục thân và dụng thần, không chỉ theo lời quẻ.
Hiểu lầm: Hỏi nhiều lần cho đến khi được quẻ vừa ý.
Cách hiểu phù hợp: Việc này làm mất ý nghĩa của quẻ. Truyền thống thường khuyên mỗi việc chỉ gieo một lần.
Thử ngay trên lá số của bạn
Tài liệu và xuất xứ
- I Ching divination (Wikipedia)Các cách gieo quẻ trong truyền thống Kinh Dịch, gồm gieo bằng đồng xu.
Bài viết nhằm hiểu khái niệm và cách tính, không thay lời khuyên chuyên môn và không dự đoán sự việc.
Đọc tiếp
BZ-008 · Bát tự
Mười Thiên can và mười hai Địa chi đảm nhiệm vai trò gì?
Thiên can và Địa chi là hai bộ ký hiệu ghép lại thành vòng sáu mươi Can Chi. Bài này nêu hành, âm dương và vai trò của từng bộ, vì sao chỉ có sáu mươi cặp, và vì sao hình tượng của mỗi chữ chỉ là điểm tựa để nhớ chứ không phải tính cách.
BZ-006 · Bát tự
Ngũ hành sinh khắc: hiểu quan hệ, không chỉ thuộc thứ tự
Năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy nối với nhau bằng hai vòng: sinh và khắc. Học thuộc thứ tự thì dễ, nhưng đọc lá số cần hiểu mỗi quan hệ nói điều gì: nuôi, chế, tiết hay tiêu. Bài này đi từ vòng tròn đến cách đặt các hành quanh Nhật chủ.
ST-003 · Đối chiếu các hệ
Thuật ngữ giống tên nhưng khác nghĩa giữa các hệ
Tam hợp, xung, hóa, vượng, mệnh chủ, cung: những chữ này xuất hiện ở nhiều hệ nhưng không đồng nghĩa. Bài này liệt kê các cặp dễ nhầm nhất để bạn luôn ghi kèm tên hệ trước khi dùng một thuật ngữ.